Trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp: [3] Các biện pháp cưỡng chế đối với Pháp nhân thương mại
Ngày 27/11/2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018 theo Luật số 12/2017/QH14 _ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 100/2015/QH13. Theo đó, doanh nghiệp sẽ có thể trở thành chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo quy định mới nếu doanh nghiệp đó là pháp nhân thương mại và phạm vào một trong các tội được quy định tại BLHS 2015 (“BLHS 2015”).
Trách nhiệm hình sự (“TNHS”) của pháp nhân thương mại là những quy định pháp luật hoàn toàn mới so với trước đây, Doanh nghiệp cần lưu ý để xem xét, điều chỉnh hành vi phù hợp, tránh những tổn thất về vật chất cũng như uy tín, hình ảnh, thương hiệu của Doanh nghiệp.
Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 (“BLTTHS 2015”) quy định 04 biện pháp cưỡng chế đối với PNTM với những căn cứ, điều kiện áp dụng chặt chẽ và thời hạn áp dụng không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử, cụ thể:
Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của PNTM.
Biện pháp này được áp dụng đối với PNTM bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS 2015 quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại; chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu PNTM có trách nhiệm bảo quản; nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì người này phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật (có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 385 BLHS 2015 về tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản, phong tài khoản). Việc kê biên tài sản phải có mặt người đại diện theo pháp luật của PNTM; đại diện chính quyền cơ sở nơi PNTM có tài sản bị kê biên và người chứng kiến.
Phong tỏa tài khoản liên quan đến hành vi phạm tội của PNTM.
Biện pháp này được áp dụng đối với PNTM bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS 2015 quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại và có căn cứ xác định PNTM có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc nhà nước; áp dụng không chỉ đối với PNTM phạm tội, mà còn đối với tài khoản của cá nhân, tổ chức khác nếu có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của PNTM; chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại. Cơ quan phong tỏa tài khoản phải giao quyết định phong tỏa tài khoản cho đại diện tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc nhà nước đang quản lý tài khoản của PNTM hoặc tài khoản của cá nhân, tổ chức khác liên quan đến hành vi phạm tội của PNTM;
Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của PNTM liên quan đến hành vi phạm tội của PNTM.
Biện pháp này được áp dụng khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của PNTM gây thiệt hại hoặc khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội. Cấp trưởng, cấp phó của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án các cấp và Hội đồng xét xử; quyết định của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thời hạn áp dụng không quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử; thời hạn tạm đình chỉ đối với PNTM bị kết án kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm PNTM chấp hành án.
Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
Biện pháp này được áp dụng đối với PNTM bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại; chỉ buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án tương ứng với mức có thể bị phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại.
LS. Võ Ngọc Thanh & SENLAW
Khi được triển khai đúng cách, hòa giải cho phép các bên tự thiết kế giải pháp phù hợp nhất với nhu cầu của mình, điều mà tố tụng truyền thống khó có thể mang lại.
Có thể áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp tại trọng tài hay không, và việc áp dụng được thực hiện theo những cách thức nào?
Việc tuân thủ nghĩa vụ bảo mật thông tin không chỉ là yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, mà còn là trách nhiệm pháp lý của người lao động, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay – khi dữ liệu và thông tin trở thành tài sản có giá trị đặc biệt của doanh nghiệp.
Người lao động cần cung cấp cho người sử dụng lao động các dữ liệu cá nhân phục vụ việc ký kết, quản lý và thực hiện hợp đồng lao động. Ở chiều ngược lại, người sử dụng lao động lại chia sẻ cho người lao động những thông tin quan trọng về quy trình, hệ thống, khách hàng hay bí mật kinh doanh để họ có thể hoàn thành công việc được giao.