Doanh nghiệp và tư cách pháp nhân của doanh nghiệp
Thương nhân cần tìm hiểu kỹ đặc điểm pháp lý của mỗi loại hình trên, để chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp với quy mô, tài sản và nguồn vốn, đặc thù ngành nghề, chiến lược phát triển, số lượng và cả tính cách của sáng lập viên.
Doanh nghiệp từ góc độ pháp luật:
Là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Tại Việt Nam, muốn khởi nghiệp và trở thành chủ doanh nghiệp, thương nhân cần chọn lấy một trong số các loại hình doanh nghiệp sau:
(i) Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty;
(ii) Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
(iii) Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn;
(iv) Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Thương nhân nên tìm hiểu kỹ đặc điểm pháp lý của mỗi loại hình trên, để chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp với quy mô, tài sản và nguồn vốn, đặc thù ngành nghề, chiến lược phát triển, số lượng và cả tính cách của sáng lập viên; trong sự cân nhắc đó, một điểm nên được lưu tâm là “tư cách pháp nhân” của doanh nghiệp.
Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp:
Tư cách pháp nhân là năng lực pháp lý của một tổ chức được Nhà nước công nhận để tồn tại, hoạt động và chịu trách nhiệm trước pháp luật một cách độc lập. Doanh nghiệp là một tổ chức có tư cách pháp nhân khi đáp ứng điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Với các thương nhân muốn biết loại hình doanh nghiệp nào có tư cách pháp nhân hay không thì cứ mở Luật Doanh nghiệp ra là thấy rõ, vì doanh nghiệp có hay không có pháp nhân là do luật quy định. Theo đó:
(i) doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là các doanh nghiệp được thành lập với loại hình là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần;
(ii) Doanh nghiêp tư nhân không có tư cách pháp nhân;
(iii) Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp và không có tư cách pháp nhân (các công ty mẹ, công ty con và công ty thành viên trong tập đoàn, tổng công ty có quyền và nghĩa vụ độc lập theo quy định pháp luật).
Nancy Phạm & SENLAW
Tại buổi làm việc, phiên tòa hoặc phiên họp trọng tài, doanh nghiệp có thể phải giải thích tình tiết, phản hồi lập luận và tài liệu của bên đối phương hoặc xem xét một phương án hòa giải. Nếu người tham gia chưa nắm chắc hồ sơ, không có đủ thẩm quyền hoặc chưa dự liệu cách xử lý tình huống phát sinh, doanh nghiệp có thể đưa ra thông tin thiếu nhất quán hoặc bỏ lỡ thời điểm cần quyết định.
“Một quyết định đúng về nội dung nhưng được đưa ra quá muộn vẫn có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ phương án tốt hơn.”
Hiệu quả giải quyết tranh chấp không chỉ nằm ở phương án pháp lý được lựa chọn, mà còn ở cách doanh nghiệp và luật sư phối hợp để thực hiện phương án đó.
Một bản án, phán quyết hoặc thỏa thuận có lợi chưa chắc giúp doanh nghiệp thu hồi tiền, nhận lại tài sản hoặc thực hiện đầy đủ quyền lợi đã được ghi nhận. Kết quả thực tế còn phụ thuộc vào khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, tình trạng tài sản và cơ chế thi hành được áp dụng.